Chuyển đến nội dung chính

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 8 - Tương Ưng Loài Rồng

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 8 - Tương Ưng Loài Rồng

PHẦN CHÁNH KINH

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
[29] Chương VIII: Tương Ưng Loài Rồng

I. Chủng Loại (Tạp 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,240)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo có bốn loại Nàga (rồng, rắn) về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.

II. Diệu Thắng (S.iii,240)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Nàga về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh.
5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ thai sanh, loại từ ẩm ướt sanh, và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh.
6) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ ẩm ướt sanh và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh và từ thai sanh.
7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh, loại từ thai sanh và loại từ ẩm ướt sanh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.

III. Uposatha (Bố-tát) (S.iii,241)
1) Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số Nàga từ trứng sanh, sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng?
4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, một số Nàga từ trứng sanh suy nghĩ như sau: "Trước đây chúng ta đã làm hai hạnh về thân, hai hạnh về lời nói, hai hạnh về ý. Do chúng ta làm hai hạnh về thân, hai hạnh về lời nói, hai hạnh về ý ấy, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta sanh cọng trú với các Nàga do trứng sanh.
5) Nếu nay chúng ta làm thiện hạnh về thân, thiện hạnh về lời nói, thiện hạnh về ý, như vậy khi thân hoại mạng chung, chúng ta có thể sanh thiện thú, thiên giới, thế giới này.
6) Vậy nay chúng ta hãy làm thiện hạnh về thân, thiện hạnh về lời nói, thiện hạnh về ý".
7) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây một số Nàga do trứng sanh, sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng.

IV. Uposatha (S.iii,242)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Rồi một Tỷ-kheo...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Nàga từ thai sanh sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng?
4-6) (Như kinh trước)
7) -- Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một số Nàga từ thai sanh sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng.

V. Uposatha
(Như kinh trước chỉ thế vào: Loại Nàga từ ẩm ướt sanh ).

VI. Uposatha
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga hóa sanh ).

VII. Nghe (S.iii,243)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh?
4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, một loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: "Loại Nàga từ trứng sanh được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc".
5) Chúng suy nghĩ như sau: "Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta có thể sanh cọng trú với loại Nàga từ trứng sanh!"
6) Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với loại Nàga từ trứng sanh.
7) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh.

VIII. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga từ thai sanh ).

IX. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga từ ẩm ướt sanh ).

X. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga hóa sanh ).

XI. Ủng Hộ Bố Thí (S.iii,244)
1-3)... Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh?
4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: "Các Nàga từ trứng sanh, thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc".
5) Chúng suy nghĩ như sau: "Ôi, mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh!"
6) Chúng bố thí đồ ăn. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh. Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh. Chúng bố thí đồ uống... Chúng bố thí vải mặc... Chúng bố thí xe cộ... Chúng bố thí vòng hoa... Chúng bố thí hương... Chúng bố thí hương liệu xoa bóp... Chúng bố thí ngọa cụ... Chúng bố thí nhà cửa... Chúng bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh.
7) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nàga từ trứng sanh.

XII-XIV. Ủng Hộ Bố Thí (S.iii,245)
(Như kinh trên, câu hỏi được đặt ra với ba loại Nàga còn lại và câu trả lời nói lên theo mỗi trường hợp).

PHẦN GIẢNG GIẢI
CỦA SƯ GIÁC NGUYÊN (TOẠI KHANH)

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
Chương 8: Tương Ưng Loài Rồng

CHỦNG LOẠI

Bây giờ qua chương Tương Ưng Rồng. Tôi cũng xin nói thiệt, nguyên chương này, đối với người của thế kỷ hôm nay, chúng ta cũng hoang mang nghi hoặc không biết rồng có thiệt hay không. Tôi không muốn nói là mình nghĩ gì về chuyện rồng rắn ở đây. Chỉ muốn tô đậm về khía cạnh tu học trong chương này. Tôi chỉ vắn tắt thế này: Tại sao có con trùn, con lươn, con rắn bên cạnh những con có lông như chó, heo, mèo, chuột? Đơn giản thôi. Bởi vì đó là sự đa dạng trong thế giới phàm phu. Nếu bên cạnh con rùa có con lươn, cạnh con dế có con trùn thì bên cạnh những loài này loài kia có con rồng thì cũng đâu có gì lạ. Có nhiều chuyện tôi không muốn nói cho bà con biết là tôi tin hay không tin. Tôi chỉ trả lời thế này: chuyện đó nếu có không có gì lạ.

Theo trong kinh, vì duyên nghiệp của chúng sinh rất phức tạp nên khi mình tái sinh sang kiếp khác, chính cái phức tạp của nghiệp đã đưa mình về cảnh giới tương thích. Ví dụ thích ăn thịt sống, phước nhiều thì mang thân người ăn sushi, còn không phước hoặc nhằm lúc nghiệp xấu trổ quả thì sanh vào loài động vật ăn thịt sống cấp thấp. Có những loại dài ngoằng như con rắn, con phước nhiều thì sanh làm rồng, có cảnh giới riêng sống rất sung sướng, có thần thông, còn vô phước thì làm con rắn tầm thường bé mọn, không năng lực gì hết, chỉ ăn chuột ăn nhái.

Tại sao rắn tầm thường mà rồng thì có thần thông sung sướng? Theo trong kinh, có những loại chúng sinh lúc mang thân người, có kiểu sống nửa trắng nửa đen. Tức là “ai làm sao tui làm vậy, ai làm bậy tui làm theo.” Thiện ác cỡ nào cũng làm, không có sự phân biệt rõ ràng. Những loại tánh sân nhiều, ác nhiều sẽ sanh lại làm loài động vật hung hăng. Còn thiện ác cũng làm, nhưng phần phước trội hơn một chút thì sẽ sanh làm loài hung thần ác quỷ như Dạ Xoa, A-tu-la thiên. Thiện ác làm hết, tánh hưởng thụ, ác nhiều hơn thiện thì sẽ sanh làm những con như con dê, heo, chim sẻ, hải cẩu. Nếu thiện ác làm hết, tâm tham mạnh nhưng phần thiện trội thì được sanh làm người hưởng thụ, người đa tình lãng mạn, sống lúc nào cũng ăn sung mặc sướng. Tham sân là hành trang chúng ta mang theo. Mang theo kiểu nào tùy thuộc vào việc chúng ta có phước nhiều hay tội nhiều: Tham nhiều lại phước nhiều, Tham nhiều phước ít, Sân nhiều phước nhiều, Sân nhiều phước ít, Si cũng vậy… Thiện pháp cũng vậy: Tín nhiều phước ít, Trí nhiều phước ít, Trí nhiều phước nhiều.

Trong rổ của quí vị có trái chua, trái ngọt, trái đắng, trái chát… Trong rổ của tôi cũng có đắng cay chua chát, nhưng là trái gì. Chính vì khác biệt trong thiện pháp và ác pháp, phước lành và tội lỗi trong quá khứ của tôi và quí vị nên mới đẩy chúng ta đi về cõi miền sai biệt. Nhiều khi cùng cha cùng mẹ, cùng mái ấm, cùng một nền giáo dục mà đời sống người anh hoàn toàn khác người em. Bởi vì do điểm đồng nào đó nên họ là anh em, và do điểm sai biệt nào đó mà lớn lên họ không còn giống nhau nữa. Giống nhau tới đâu thì cộng nghiệp tới đó; khác nhau tới đâu thì xa nhau tới đó.

Trong kinh nói, có trường hợp súc sinh sống với người, có lúc người sống với chư thiên, có lúc chư thiên sống với súc sinh, có lúc thánh sống với súc sinh, có lúc với người, với chư thiên. Có những lúc, có sự kết hợp người chồng rất là đáng kính mà bà vợ không ra gì hết. Hoặc có lúc cha mẹ rất tệ về mọi mặt nhân cách, kiến thức, trí tuệ bẩm sinh đều thua kém con vời vợi. Có lúc con thua kém cha mẹ, vợ kém chồng, chồng kém vợ, bạn bè hơn kém nhau. Chư thiên sống với súc sinh là như vậy. Có người cực kỳ dễ thương cực kỳ khả kính mà lại sống với con người không ra gì hết, đó là thánh sống với súc sinh.

Có câu chuyện, một Mục sư được một giáo dân hứa cho một số tiền lớn với điều kiện khi ông chết thì ông Mục sư phải nói lời nào cho đẹp, cho có cánh. Khổ nỗi, ông giáo dân này thì thuộc loại bán trời không văn tự, có điều lại góp tiền cho nhà thờ rất nhiều. Rồi khi ông giáo dân chết. Người ta đến đám tang không mấy thiện cảm, nói những điều khó nghe. Mục sư nói: “Hôm nay chúng ta tiễn một người mà khi còn sống làm phiền chúng ta đủ điều. Giờ ông ta đi rồi, bà con vui tôi cũng vui theo”. Lúc đó, bà vợ ông giáo dân nháy với ông Mục sư ra hiệu rằng ông đã nhận tiền thì phải nói tốt cho chồng mình chứ. Mục sư nói tiếp: “Ông này dễ ghét thật, nhưng so với bà vợ của ổng, thì ổng là một bậc thánh!”

Qua câu chuyện trên tôi muốn nói rằng ‘thánh’ đây chỉ là ước lệ, mặc định mà thôi. Nghĩa là có người rất là dễ ghét, nhưng họ phải sống với những người rất khả kính, bởi giữa họ với nhau có sự cộng nghiệp nào đó. Ví dụ, Đề Bà Đạt Đa dễ ghét toàn phần, tại sao ông lọt vào được gia đình em ruột bà Yasodhara, làm em vợ của Thái tử Tất Đạt, sống đời nhung lụa, hoàng thất, đi tu cũng được chư tăng Phật tử tôn trọng kính nể, trong khi ông ác vô cùng tận. Bởi vì có chút cộng nghiệp với thái tử Tất Đạt. Muốn theo đuổi để hại một người như Đức Phật không đơn giản, phải có phước như thế nào đó mới đủ tầm để chạy theo phá.

Trong kinh nói Đề Bà Đạt Đa tương lai sẽ trở thành một vị Độc Giác. Muốn trở thành Độc Giác thì thời gian tu tập phải hai A-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp trái đất. Muốn trở thành vị đệ tử số một của Đức Phật thì phải tu một A-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp trái đất. Đề Bà Đạt Đa đã tu xong hai A-tăng-kỳ, chỉ còn thiếu một trăm ngàn kiếp trái đất nữa là thành Phật độc giác. Vua Ajātasattu cũng sẽ thành Phật Độc Giác, nhưng chỉ mới tu được một trăm ngàn kiếp trái đất, tức con số lẻ. Nếu bỏ thời gian lâu như vậy thì thành Chánh Đẳng Giác cũng còn đáng chớ lâu vậy mà thành Độc Giác thì cũng hơi nản. 

Trong kinh nói sau khi giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni mãn rồi (tức là những lời Ngài dạy không còn người biết tới nữa), trải qua nhiều tỷ năm, mới có Phật Di Lạc ra đời. Tuổi thọ con người lúc đó sống 80 ngàn tuổi. Theo chu kỳ trái đất, những chỗ lục địa trở thành biển, những chỗ là biển sẽ trồi lên thành lục địa mầu mỡ hơn. “Thương hải biến vi tang điền” là vậy đó. Về con người, xã hội thì chúng sinh có lúc trở nên cùng hung cực ác, tuổi thọ giảm xuống chỉ còn 10 tuổi, chiều cao còn năm bảy tấc. Do luật vô thường, người ác ôn đó có người có tâm lành, tu tập thiện pháp và sống lâu vô số năm, lên tới đỉnh rồi rơi xuống đáy. Sẽ có một thời kỳ chúng sinh sống lâu và có thời kỳ xuống thấp. Lúc tuổi thọ tụt xuống 80 ngàn tuổi thì Đức Phật Di Lạc ra đời. Phật Di Lạc sống tám mươi ngàn tuổi, để lại giáo pháp một trăm ngàn năm, thay vì năm ngàn năm như Phật Thích Ca. Sau đó trái đất từ từ khô cằn bốc cháy và tiêu hủy, sau đó hình thành trái đất khác. Cách hình thành hoàn toàn không giống như giả thuyết Big Bang của khoa học bây giờ. 

Chúng ta sẽ có một lúc bàn chuyện này trong suốt ba ngày ba đêm, bây giờ thì không. Có một tin vui là có rất nhiều bài báo của các nhà khoa học, nhận xét rằng nguồn gốc của trái đất này rất là giống như Phật Giáo. Có vô số trái đất, hết tuổi thọ thì hoại chớ không phải chỉ một trái đất này đâu. Hoại xong thì hình thành ngay vị trí này một trái đất khác, và lần này kéo dài trong suốt một A-tăng-kỳ đại kiếp, không có Phật nào ra đời. Sau A-tăng-kỳ đó thì lúc đó Ma Vương và vua Ba Tư Nặc mới thành Phật. Nghĩa là lúc năm ngàn năm xá lợi gom lại mà mình không đắc thì phải chờ Phật Di Lạc, gặp Phật Di Lạc mà không đắc quả thánh thì mình tiếp tục làm phàm thăm thẳm chiều trôi. Còn không thì phải tái sanh ra ngoài hệ thế giới khác để gặp Phật khác. 

Trong phạm vi mười ngàn thế giới không bao giờ có hai vị cùng xuất hiện, ngoài nơi đó thì trong kinh vẫn để ngỏ. Tôi có niềm tin là có, nhưng quá xa. Mình sống trong nhóm nào thì mình đã có cộng nghiệp với nhóm đó, sở thích tâm tư của mình đã khắng khít vào hệ thế giới ở đó, nên khó ra ngoài. Có vô số hành tinh giống như trái đất mình. Gần thì giống nhau, nhưng xa quá thì khác nhau. Bên Tàu có câu: “Thiên lý bất đồng tục, vạn lý bất đồng ngữ.” Cách nhau ngàn dặm phong tục đã khác, cách nhau vạn dặm ngôn ngữ đã khác. Tôi không phải là nhà khoa học, không phải là người khoa bảng nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta rất nên có buổi nói chuyện về Vũ trụ quan Phật Giáo Nguyên Thủy trên nền tảng khoa học.

Làm phước thì phải nguyện, đi càng sớm càng tốt, trừ phi ai có đại nguyện trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác không muốn sang sông một mình, muốn đóng thuyền lớn để độ chúng sinh, kẻ đó tôi xin quỳ dưới chân. Còn ai muốn đi sớm thì nhớ câu này của châu Phi: “Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì kiếm thêm bạn”. Thấy mình không có gan đi xa thì đi lẹ cho khỏe cái thân, bởi vì sau kiếp trái đất này sẽ trải qua một A-tăng-kỳ đại kiếp không có Phật.

Chúng ta phước báo không giống nhau, phiền não không giống nhau, tội lỗi không giống nhau, đức tánh không giống nhau. Giống được bao nhiêu chúng ta gần nhau bấy nhiêu, vì khác nhau thì chúng ta chỏi nhau bao nhiêu thì ráng chỏi. Có cặp vợ chồng như mặt trăng mặt trời. Có cặp bạn bè thân nhau lắm nhưng mỗi người vẫn một phương. Cộng nghiệp bao nhiêu thì cộng, rời bao nhiêu thì rời, nhưng đừng bao giờ có sự kết hợp sai nồi lộn nắp, người phải sống với súc sanh, súc sanh sống với chư thiên thì phiền lắm.
________________________________

Bài viết được trích từ Bài Giảng Kinh Tương Ưng
của Tỳ Khưu Giác Nguyên (Toại Khanh) do Nhị Tường ghi chép lại.
Được lưu trữ dưới dạng âm thanh tại đây: www.vietheravada.net
Bản kinh Pāḷi và Sớ giải tham khảo từ địa chỉ www.tipitaka.org.

Xem thêm: Kinh Tương Ưng Bộ


Nhận xét

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN

Kinh Tăng Chi Bộ - 10 kiết sử

(III) (13) Các Kiết Sử 1. - Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười? 2. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm hạ phần kiết sử? 3. Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Ðây là năm hạ phần kiết sử.

Kinh Tương Ưng Bộ - Tham luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 4) Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 5) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra. 6-10) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối với t

Kinh Tương Ưng Bộ - Sức mạnh của Đàn Bà

30. VI. Họ Ðuổi Ði (S.iv,247) 1) ... 2) -- Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. 3) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc và sức mạnh tài sản, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, nếu người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. 4) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh giới hạnh,

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 9 - Tương Ưng Kim Xí Ðiểu

PHẦN CHÁNH KINH KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3 [30] Chương IX: Tương Ưng Kim Xí Ðiểu I. Chủng Loại (S.iii,246) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh, loại Kim xí điểu từ thai sanh, loại Kim xí điểu từ ẩm ướt sanh, loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. II. Mang Ði (Tăng 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,247) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh... loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. 4) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ trứng sanh chỉ mang đi các loại Nàga từ trứng sanh, không mang đi các loại Nàga từ thai sanh, từ ẩm ướt sanh và hóa sanh. 5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ thai sanh, mang đi các loại Nàga từ trứng sanh và các loại Nàga từ thai sanh, không mang đi các loại Nàga từ ẩm ướt sanh và các loại

Kinh Tương Ưng Bộ - Vô ngã tưởng

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66) 1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. 2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!" 4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

Kinh Tăng Chi Bộ - Ác ý

(VIII) (18) Con Cá 1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: 2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá? - Thưa có, bạch Thế Tôn. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: "Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống"? - Thưa không, bạch Thế Tôn.

Kinh Tương Ưng Bộ - Dục là căn bản của Khổ

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla. 2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn: -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ! -- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta

Thiền Vipassana - Thiền Tứ Niệm Xứ (Thích Trí Siêu)

Thiền Tứ niệm xứ (Thích Trí Siêu -  1998) _______________________ Mục Lục [1] Vài lời cùng bạn đọc [2] Mở đầu  [3] Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh  [4] Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông  [5] Thiền và Tịnh Ðộ  [6] Tứ Niệm Xứ và Bồ Tát Ðạo  [7] Phương pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ  [8] Kết luận [9] Phụ Lục - Kinh Quán Niệm Sách Thiền Tứ Niệm Xứ đã được tái bản nhiều lần. Riêng trong kỳ tái bản này sách được bổ túc thêm phần Phụ Lục với Kinh Niệm Xứ, dịch từ "Discourse on the Applications of Mindfulness" (Satipatthanasutta) trong "Middle Length Sayings" (Trung Bộ Kinh) của Pali Text Society, I.B. Horner, 1967.

Kinh Tương Ưng Bộ - Ví dụ mũi tên

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207) 1-2) ...  3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

Kinh Trung Bộ - 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi

27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Cùlahatthipadopama sutta) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika: -- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy? -- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây. -- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không? -- Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.