Tìm kiếm trên trang:

5/23/18

GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Phần XV - TƯỞNG NIỆM PHẬT, PHÁP, TĂNG

Phần XV

TƯỞNG NIỆM
PHẬT, PHÁP, TĂNG

Phần XV - TƯỞNG NIỆM PHẬT, PHÁP, TĂNG - GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Đạo Phật Nguyên Thủy

NỘI DUNG

1. Tưởng Niệm Phật (Buddhanussati)
2. Tưởng Niệm Pháp (Dhammanussati). 2.4 Câu Hỏi: Liệu Một Người Có Thể Chứng Đạt Thánh Đạo Mà Không Chứng Ngộ Thánh Quả Lập Tức Hay Không?
3. Tưởng Niệm Tăng (Sanghanussati)
4. Sách Và Tài Liệu Tham Khảo


I
Tưởng Niệm Phật


Sự tưởng niệm một bậc Giác Ngộ là tưởng niệm Đức Hạnh hay Công Đức của Phật (Buddhanussati).

Đó là cách diễn tả sự chánh niệm lấy những Đức Hạnh của Đức Phật làm đối tượng.

Đó là phương thức đầu tiên trong Bốn Phương Thức Thiền Phòng Hộ (Four Guardian Meditations), ba phương thức thiền kia là:

(1) Phát triển tình thương yêu, lòng nhân ái: để xua tan sự Sân hận, ác ý.

(2) Sự gớm ghiếc của cơ thể: để xua tan dục vọng.

(3) Chánh niệm về Cái Chết: để xua tan tánh tự mãn và làm khởi sinh sự thúc giục về tâm linh (samvega).

 Làm Thế Nào Để Tưởng Niệm Những Đức Hạnh Của Phật?

Một người muốn tưởng niệm những Đức Hạnh của Phật trước tiên nên đọc tụng những đức hạnh để làm quen với những đối tượng. Khi sự tập trung trở nên tốt hơn, thì người đó có thể chuyển từ việc tụng niệm bằng miệng qua việc chánh niệm trong tâm. 

Khi sự tập trung đã được sâu sắc hơn, thì tâm sẽ an định vào những đức hạnh đó thay vì tâm tập trung vào những lời tụng đọc như trước. Vì vậy, mọi người nên biết rõ trọn vẹn ý nghĩa của những đức hạnh của Đức Phật để mang lại lợi ích việc tụng niệm, vì tưởng niệm Phật cần phải dựa vào lòng tin thành tín và sự hiểu biết rõ ràng.

Theo truyền thống trước kia, có Chín Đức Hạnh Của Đức Phật (Chín Đức Hạnh hay còn gọi Chín Công Hạnh hay Chín Danh Hiệu) mang tên của Chín Đức Hạnh cao thượng nhất. Chín Đức Hạnh của Đức Phật thường được đọc tụng theo truyền thống đó là:

“Iti pi so Bhagava,1-Araham, 2-Sammasambuddho, 3-Vijja carana sampanno, 4-Sugato, 5-Lokavidu, 6-Anuttaro purisadamma sarathi, 7-Sattha deva-manussanam, 8-Buddho, 9-Bhagava ti.”

“Thật vậy, Người, Đức Thế Tôn là bậc 1-A-la-hán, bậc 2-Toàn Giác, bậc 3-Có Đủ Trí Tuệ và Đức Hạnh, bậc 4-Thoát Ly Khéo Léo, bậc 5-Hiểu Rõ Thế Gian, bậc 6-Thuần Phục Con Người, 7-Thầy của trời và người, 8-Phật và 9-Thế Tôn”.

Nguyên văn Hán-Việt hay được dùng (với mười danh hiệu Phật) là:

“Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.”

5/21/18

GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Phần XIV - “THIỀN MINH SÁT” CỦA PHẬT GIÁO (Vipassana)

Phần XIV

“THIỀN MINH SÁT”
CỦA PHẬT GIÁO
(Vipassana)

Phần XIV - “THIỀN MINH SÁT” CỦA PHẬT GIÁO (Vipassana) - GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Đạo Phật Nguyên Thủy

NỘI DUNG

1. Những Loại Thiền (Bhavana) Khác Nhau
2. Đối Tượng Thiền Trong Thiền Định (Samatha)
3. Mục Đích Của Thiền Minh Sát (Vipassana)
4. Vai Trò Của Chánh Niệm Trong Thiền Minh Sát
5. Bốn Nền Tảng Chánh Niệm – Tứ Niệm Xứ (Satipatthana)
6. Thiền Minh Sát Thực Hành
7. Những Ích Lợi Của Thiền Minh Sát
8. Chú Giải 
9. Sách và Tài Liệu Tham Khảo


I
Những Loại Thiền Khác Nhau


Trong tiếng Pali, từ ‘bhavana’ có nghĩa là “sự phát triển” hay “sự tu dưỡng”. Trong Kinh Điển, nó chỉ những phương pháp phát triển và tu dưỡng Tâm, được gọi là “thiền”. Có 2 loại thiền (bhavana), đó là:

(I) Thiền Định hay Thiền Định Tâm (Samatha)

‘Samatha‘ có nghĩa là sự “an tĩnh” hay “tĩnh lặng”, là trạng thái tập trung, không dao động và bình lặng của tâm. Nó được gọi là trang thái tĩnh lặng vì nó làm dịu lặn năm (5) chướng ngại (nivaranas) bao gồm cả si mê. Khi tâm đang tập trung sâu sắc hay “định” vào một đối tượng hành thiền, thì tất cả những chướng ngại như:

(1) tham dục,
(2) sân hận,
(3) lười biếng và ngái ngủ,
(4) bất an và lo lắng; và
(5) nghi ngờ

không có mặt trong tâm, vì tâm đang tập trung vào đối tượng rồi. Khi tâm không còn bị dính những chướng ngại này, người hành thiền cảm thấy được sự tĩnh lặng, yên bình và hạnh phúc. 

Kết quả của việc thiền định (Samatha) là có thể mang lại những mức độ hạnh phúc, hỷ lạc khi đã đạt được mức độ tập trung hay định sâu (samadhi), như là Cận Định (Upacara) hay Định Định / Định An Chỉ (Appana), được gọi là những tầng Thiền Định (Jhana), nhưng những dạng “định” này chưa giúp cho người hành thiền hiểu rõ một cách đúng đắn về những hiện tượng thân tâm đích thực “như chúng là”.

(II) Thiền Minh Sát (Vipassana)

Trong tiếng Pali, từ ‘Vipassana’ là danh từ ghép hai từ khác là: “Vi” có nghĩa là “bằng nhiều cách khác nhau” và “passana” có nghĩa là “thấy”. Vì vậy, nguyên chữ “Vipassana” có nghĩa là “thấy bằng nhiều cách khác nhau”, và khi được dùng trong ý nghĩa về “Thiền” thì “Vipassana” có nghĩa là: “thấy mọi đối tượng hay hiện tượng là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta)”.

Nguyên tắc của Thiền Minh Sát là “quan sát” hay “quán sát” bất kỳ quá trình tâm vật lý khởi sinh lên ngay trong khoảng khắc này. Như vậy việc định tâm không phải được cố định trên một đối tượng riêng lẻ nào, mà trên những khoảng khắc định tâm hay sát-na định (khanika samadhi) khởi sinh lên khi tâm không còn dính với năm chướng ngại. Trong lúc này, tâm có thể “lưu ý” bất cứ đối tượng nào nổi lên hay khởi sinh một cách mạnh mẽ, và nó sẽ lộ ra bản chất đích thực của nó (yathabhuta).

5/16/18

GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Phần XIII - MƯỜI CĂN BẢN CỦA HÀNH ĐỘNG CÔNG ĐỨC - PHẦN BA: NHÓM THIỀN

Phần XIII

MƯỜI CĂN BẢN CỦA
HÀNH ĐỘNG CÔNG ĐỨC

PHẦN BA: NHÓM THIỀN
(BHAVANA)

Phần XIII - MƯỜI CĂN BẢN CỦA HÀNH ĐỘNG CÔNG ĐỨC -  PHẦN BA: NHÓM THIỀN - GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC - Đạo Phật Nguyên Thủy

NỘI DUNG

1. Điều Kỳ Diệu Của Năng Lực Giáo Pháp
2. Sự Truyền Dạy Giáo Pháp (Dhamma-desana)
3. Sự Truyền Dạy Giáo Pháp Bởi Cư Sĩ và Những Ích Lợi
4. Lắng Nghe Giáo Pháp (Dhamma-savana)
5. Cách Thức Đúng Đắn Để Lắng Nghe Giáo Pháp và Những Ích Lợi
6. Chỉnh Lý Quan Điểm, Niềm Tin – Chánh Tín (Ditthijukamma)
7. Những Loại Tà Kiến
8. Những Ích Lợi Của Việc Chỉnh Lý Quan Điểm, Củng Cố Niềm Tin
9. Sách và Tài Liệu Tham Khảo


I
Sự Kỳ Diệu Của Năng Lực Giáo Pháp


Vào một lần nọ, khi Đức Phật đang cư ngụ ở vùng Nalanda trong khu Vườn Xoài của thí chủ Pavarika, thì có một Phật tử tại gia, tên là Kevaddha, đến xin gặp Phật và thỉnh cầu Phật cử một Tỳ kheo biểu diễn những thần thông kỳ diệu để cho những người dân ở thành Nalanda càng thêm tin tưởng vào Đức Phật và vì vậy, nhiều người sẽ trở thành Phật tử. Tuy nhiên, Đức Phật đã từ chối lời thỉnh cầu này. Đức Phật bảo rằng, Người cũng chưa bao giờ dạy Giáo Pháp (Dhamma) cho những Tỳ kheo là: “Này Tỳ kheo, hãy ra ngoài biểu diễn thần thông biến hóa cho những cư sĩ áo trắng xem”.

Đức Phật đã trả lời y hệt như vậy, khi người đó tiếp tục thỉnh cầu lần thứ hai. Đến lần thứ ba, Đức Phật bắt đầu chỉ cho ông ta về 3 điều kỳ diệu mà Đức Phật đã biết được và giác ngộ được bằng trí tuệ bên trong của bản thân mình.

Đầu tiên là những năng lực thần thông (iddhi patihariya) bao gồm một số khả năng siêu phàm là trở thành nhiều người cùng một lúc, thường gọi là nhân đôi, nhân ba và khả năng đi xuyên qua tường, bay trên không trung và đi trên mặt nước, và thậm chí có thể lên thăm cõi trời Phạm Thiên. Thần thông này bị Đức Phật từ chối, vì nó giống như những huyền thuật Gandhari (Kiện-đà-lê). 

Điều kỳ diệu thứ hai là khả năng đọc tâm (adesana patihariya) của người khác, cũng không được Đức Phật tán đồng bởi vì nó có thể được hiểu nhầm là thông thuật được gọi là “viên ngọc của ý nghĩ” (cintamani) hay huyền thuật Manika

Đức Phật khuyến khích điều kỳ diệu thứ ba, đó là của sự Giáo huấn, Truyền dạy (anusasani patihariya) vì nó đưa đến sự tu dưỡng Giới Hạnh Đạo Đức, Chánh Định và Trí Tuệ để cuối cùng dẫn đến diệt trừ những ô nhiễm(Asavakkhaya Nana) và sự giác ngộ Niết-bàn (Nibbana), chấm dứt đau khổ. Điều kỳ diệu lớn nhất chỉ có thể tồn tại trong khi có chân lý Phật Pháp (Buddha sasana).