Chuyển đến nội dung chính

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 12 - Tương Ưng Vacchagota

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 12 - Tương Ưng Vacchagota

PHẦN CHÁNH KINH

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
[33] Chương XII: Tương Ưng Vacchagota

I. Vô Tri (1) (S.iii,257)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagota đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagota bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, này Tôn giả Gotama, một số tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là không thường còn"; hay "Thế giới hữu biên" hay "Thế giới vô biên"; hay "Sinh mạng và thân thể là một" hay "Sinh mạng và thân thể là khác"; hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết" hay "Như Lai không tồn tại sau khi chết" hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?
4) -- Do vô tri đối với sắc, này Vaccha, do vô tri đối với sắc tập khởi, do vô tri đối với sắc đoạn diệt, do vô tri đối với con đường đưa đến sắc đoạn diệt, cho nên có những (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên đời: "Thế giới là thường còn"... hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
Do nhân này, do duyên này, này Vaccha, có một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn"... hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

Vô Tri (2)
(Như trên, ở đây là "vô tri đối với thọ").

Vô Tri (3)
(Như trên, ở đây là "vô tri đối với tưởng").

Vô Tri (4)
(Như trên, ở đây là "vô tri đối với các hành").

Vô Tri (5)
(Như trên, ở đây là "vô tri đối với thức").

II. Vô Kiến (1-5)
(Như trên, ở đây là "vô kiến đối với sắc" ... "...thọ, ...tưởng, ...các hành, ...thức").

III. Không Hiện Quán (anabhisamaya) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không hiện quán năm uẩn").

IV. Không Liễu Tri (anubodha) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không liễu tri năm uẩn")

V. Không Thông Ðạt (appativebha) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không thông đạt năm uẩn")

VI. Không Ðẳng Quán (asallakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không đẳng quán năm uẩn")

VII. Không Tùy Quán (anupalakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không tùy quán năm uẩn")

VIII. Không Cận Quán (appaccupalakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không cận quán năm uẩn")

IX. Không Ðẳng Sát (asamapekkana) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không đẳng sát năm uẩn").

X. Không Cận Sát (appaccupekkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không cận sát năm uẩn")

XI. Không Hiện Kiến (appaccakkhakamma) (1-5)
(Như trên, ở đây là "không hiện kiến năm uẩn")

PHẦN GIẢNG GIẢI
CỦA SƯ GIÁC NGUYÊN (TOẠI KHANH)

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
Chương 12: Tương Ưng Vacchagota

VÔ TRI

Nội dung chương Vacchagotta chỉ là: Do không quán chiếu năm uẩn trên khía cạnh Tam tướng nên phàm phu mới nảy sinh các hình thức tà kiến.

Trước đây tôi có nói, đời sống thông minh nhất, an toàn nhất là đời sống thường xuyên quán chiếu năm uẩn. Tại sao là đời sống thông minh nhất? Bởi vì đây là đời sống đem lại cho mình thánh trí, nếu đủ duyên thì chứng thánh, mà không đủ duyên thì cũng được an lạc ngay trong kiếp này. Không có đời sống nào hơn được đời sống như vậy. An toàn nhất là vì, một người thường xuyên quán chiếu năm uẩn thì bất cứ một bất trắc nào xảy đến vẫn đủ sức đối phó. Quán chiếu năm uẩn nghĩa là vẫn lái xe, nấu ăn, chăm sóc con cái nhà cửa, đi làm bình thường, nhưng luôn luôn ghi nhớ rằng đây là Sắc uẩn, đây là Thọ, đây là Tưởng, đây là Hành, đây là Thức. Cái này là vô thường, cái này đang chờ đợi để biến mất, cái này đang trong tình trạng trở thành một cái khác. Liên tục quán tưởng như vậy. 

Có người nói: Tôi lu bu quá thì làm sao có thời gian, có đầu óc nữa mà quán chiếu.Tôi đã trả lời thế này: Quí vị có bao giờ lái xe trong cơn nóng giận, trong niềm vui hay không? Quí vị có bao giờ nấu ăn trong sự bực dọc sân hận hay trong nỗi nhớ niềm thương với ai đó hay không? Chắc chắn là có. Bây giờ, thay vì mình lái xe, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa bằng tâm bất thiện, thì đổi lại, trong ý thức rất rõ ràng, rất thường trực là mọi sự đang vô thường. Thay vì hồi đó mình xài con dao cán gỗ thì bây giờ mình xài con dao cán bạc. Chỉ vậy thôi. Không phải tôi bắt quí vị cầm một lúc hai con dao. Xưa giờ mình làm việc, sống trong đời này bằng tâm bất thiện, nhỏ mọn toan tính, ích kỷ bỏn xẻn ganh tị v.v… giờ đổi lại bằng chánh niệm. 

Một người thường xuyên sống quán chiếu thì sẽ không nảy sinh tà kiến. Bởi vì tất cả tà kiến trong đời đều dựa trên ý niệm ‘tôi là’ và ý niệm, ‘của tôi’ mà có. Một người ý thức rất rõ mọi thứ trong đời này đều do nhân duyên thúc đẩy, lắp ráp mà nên, do duyên mà có, có rồi thì phải bị mất, sống với tâm niệm này thì tà kiến (thường kiến và đoạn kiến) không có cơ hội để có mặt.

Thường kiến là (1) tin vào một cái tôi, (2) tin vào một đấng tối cao nào đó, (3) tin vào một cảnh giới vĩnh hằng. Chẳng hạn mình cho rằng thân xác này là của mình, ai đụng tới thân xác này là đụng chạm đến mình, đụng chạm đến cái tôi. Người thường xuyên biết rõ mình chỉ là đống cát, nhúm bọt nước thì không có ý niệm tôi và của tôi. Cái này phải thực tập. Nghe giảng hoài, xem kinh 24 tiếng đồng hồ cũng không thấy được. Phải ngồi yên, sống chậm lại để thấy mình luôn luôn trong tình trạng trở thành cái khác chớ không có gì thường trụ vĩnh hằng. Chính vì không chánh niệm, không thường xuyên nhìn ngắm bản thân của mình để thấy mọi sự do duyên mà có và luôn luôn trôi đi về phía trước. Chính vì không thấy như vậy nên có người nảy sinh thường kiến.

Đoạn kiến cho rằng (1) (vô hành kiến) không có chuyện báo ứng, (2) (vô nhân kiến) mọi sự ngẫu nhiên mà có, và (3) (vô hữu kiến) cái gì không chứng minh được thì không có (như chuyện luân hồi, chuyện hiền thánh, sự tồn tại của chúng sinh khuất mặt…). Nếu nói rằng cái gì “tôi chứng minh được thì chuyện đó mới có” thì xin hỏi, khả năng chứng minh của ta được bao nhiêu. Muốn tin thì cũng cần bằng chứng mà muốn bác cũng cần bằng chứng.

Toàn bộ các tà kiến là do không hiểu biết năm uẩn, từ không hiểu biết năm uẩn mới hình thành ý niệm ‘tôi là’ và ‘của tôi’. Từ hai ý niệm này mới tạo ra sáu loại tà kiến mà chúng ta thấy ở trên. Đó là nội dung chương Vacchagotta. Phải có hành trì, chớ không chỉ đọc sách hay nghe giảng mà hiểu được. Số người đắc đạo có lẽ chỉ là một phần triệu. Số người gặp Phật nghe Ngài nói một câu mà đắc thì rất ít. Còn lại là nghe xong họ phải thấm thía từ từ, và gieo chủng tử bồ đề trong nhiều kiếp. Nghe mà đắc liền, không cần khổ tu thì chỉ có hai trường hợp: (1) Gặp đúng thánh nhân tầm cỡ; (2) Bậc đại duyên đại phúc. Nghĩa là bản thân mình phải ngon lành và gặp ông thầy thứ thiệt. Chuyện quan trọng của đạo Phật là hành trì!

Quán chiếu năm uẩn, nghe đơn giản nhưng đòi hỏi phải khổ công khổ luyện. Có người hỏi khó quá làm sao tu nổi. Câu trả lời là: Không tu mới khó, vì không tu sẽ khổ nhiều hơn. Giống như câu: Thuốc quá khó uống, làm sao uống nổi? Không uống mới khó, không uống sẽ khổ nhiều hơn. Biết bao nhiêu người bán nhà bán đất để được uống thuốc đắng. Dù đắng cỡ nào, một khi đã bệnh thì dù phải bán nhà, làm trâu làm ngựa để có tiền uống thuốc. Dù cho bị đè ra chích, cắt, mổ, đau đớn cũng phải chịu. Quán chiếu năm uẩn cũng vậy, nghe hơi khó thật, nhưng hãy nhớ, không quán chiếu năm uẩn càng khó hơn, vì cứ phải sống trong ảo giác, ngộ nhận, lầm tưởng u mê khổ gấp triệu lần hơn.

Quán chiếu năm uẩn không phải là lời dạy mang tính siêu hình triết học thỏa mãn tri thức mà nó là con đường thoát khổ. Khoan nói đến chuyện tu như vậy không bị đọa, mai mốt được về trời, gặp Phật, có thần thông v.v…, không quán chiếu năm uẩn thì sẽ khổ gấp ngàn lần người quán chiếu. Bởi vì, người có trí tuệ trong năm uẩn, bị đánh chỉ bị đau vì bị cú đánh, người không có trí trong năm uẩn khi bị đánh sẽ bị đau cả tâm lý, không chỉ riêng lúc đó mà còn nhiều năm tháng sau đó nữa. Chính vì cái đau tâm lý kéo dài quá lâu nên bên Tàu có câu “Quân tử báo thù mười năm chưa muộn”. Bị đánh mà không đánh trả lại được sẽ nhớ một đời. 

Quán chiếu năm uẩn là một nhu cầu sinh tử, bức thiết. Chỉ sống quán chiếu năm uẩn mới an lạc được và có thể chết an lành. Phải thực tập thưa quí vị. Tôi không dám nói vì sợ trời phạt chớ trong thời gian hai năm trở lại đây tôi được an lạc rất nhiều dù không phải là hành giả. Ở đời có hạng tu được vì có trí huệ, phiền não ít. Và có hạng thứ hai, vì sợ khổ quá nên phải tu. Có những người vì quá bất hạnh nên họ đã tinh tấn tu hành. 

Tôi chẳng hề tin tôi có trí huệ, cũng không phải là người có tàm có úy, có huệ căn tu hành nhiều kiếp, nhưng tôi quá sợ chuyện tôi bị tổn thương. Tôi nhiều mặc cảm lắm. Tôi có tới ngàn lẻ một lý do để mặc cảm, từ gia thế, học hành, ngoại hình, nhân dáng… Trang lứa với tôi bây giờ ai cũng chùa to Phật lớn đệ tử trùng điệp. Tôi bây giờ ốm tong ốm teo y như con nhái, bụng thì to, tay chân thì như xương gà. Trong bụng lén lén nghĩ, nếu mình bự con một chút xíu bây giờ mình cũng là trưởng lão. Làm thầy chùa lâu lắm rồi, gần bốn chục năm rồi, mà bây giờ không có gì trên tay. Tôi phải đem chuyện đời tôi làm trò hề cho bà con thấy. Tôi quán chiếu năm uẩn bởi vì tôi không muốn tổn thương nữa. Tôi biết nó là đồ giả, nhưng vì mình không thực tập nên bị nó làm khổ quá nhiều. Tôi làm được chuyện quán chiếu năm quẩn bởi tôi quá sợ khổ đi.

Trên đời này có hai hạng uống thuốc: 1. Uống để làm đẹp, thẩm mỹ. 2. Uống thuốc vì không muốn chịu đau đớn nữa. Hạng thứ nhất là tu hành nhiều kiếp trí tuệ thông minh, gặp Phật nghe pháp, tu hành ngon lành. Hạng thứ hai là vì khổ quá. Vì vậy, muốn hết khổ thì phải nhớ câu này: Ta té ở đâu thì đứng lên từ đó, ta luân hồi trầm luân đau khổ là vì năm uẩn, thì cũng chính năm uẩn là bè đưa ta qua bờ giải thoát. Ta kiệt sức trên biển nếu không có phao thì có gặp xác chết trôi cũng phải ôm. Cũng vậy, bây giờ mình phải dựa vào năm uẩn tật bệnh này để tu tập như người chết đuối bám víu cái xác trôi trên biển để vào bờ. Tôi ao ước một điều, nếu cái đau khổ và phiền não có nút bấm ON/OFF thì tôi đã thành thánh lâu rồi. Bởi vì quá khổ, chán lắm rồi. Muốn làm gì đó mà không được, muốn đi đâu đó mà không được, muốn gặp ai đó mà không được, muốn sở hữu cái gì đó mà không được. Chỉ chừng đó thôi, muốn mà không được đã khổ nói chi không muốn mà lại bị càng khổ bao nhiêu.

Toàn bộ chương Vacchagotta, Đức Thế Tôn xác định rằng: trên đời chỉ có hai thứ phiền não đó là tham và ưu. Bởi vì vô minh là không thấy, tà kiến là thấy sai. Cả hai đều do không quán chiếu năm uẩn nên không hiểu được Bốn Đế. Tham ưu này là do vô minh và tà kiến mà ra bởi vì không có cái tham, sân nào mà không có si. Tham ưu vì do không thấy năm uẩn đều do duyên mà có, có rồi phải bị mất. Mất có nhiều trường hợp: mất là không còn nữa, mất là thay đổi thành thứ khác, mất là ta không còn giữ được nó, do ta chán nó hoặc nó lìa bỏ ta. Tất cả những gì ta có trong đời đều nằm trong những tình trạng đó.

Không có được cái mình thích cũng là khổ. Phải chấp nhận cái mình không thích cũng là khổ. Có được cái mình thích mà giữ không được cũng là khổ. Giữ được nó mà mình không còn tiếp tục thích nó nữa cũng là khổ. Những ai từng ở Âu Mỹ sẽ biết điều này, ở Âu Mỹ bỏ rác rất là khổ. Ở VN, rác lớn chỉ cần chở xe ba gác tới chỗ vắng đạp xuống đường chạy luôn, còn rác nhỏ thì lén dòm không ai thấy thì liệng luôn. 

Có lần ở Thụy Sĩ tôi mua món đồ cũ: cái bàn bằng inox, tôi thích lắm. Có điều, tôi tháo khung ra được nhưng mặt bàn là miếng gỗ nguyên khối không cách nào đem đi được. Bữa đó tôi đi xe lửa, không mang theo được, tôi tính gởi lại nhưng không biết nhờ ai. Trong room này chắc có người ở Thụy Sĩ, họ nghe chắc họ nói tôi ích kỷ. Tôi mua cái bàn đó tôi tính, nếu thích thì để trong nhà, chán thì để ngoài sân không sợ nắng mưa. Nếu hư cái mặt thì lấy miếng ván bỏ lên xài cả đời. Tôi có ý nếu có đồ ráp được tôi đem về Mỹ, còn ở châu Âu này thì tôi xài, nếu về Mỹ thì tháo ra bó lại dán băng keo đem đi. Nhưng trời đất ơi, mua rồi mới biết là mình không đem cái mặt bàn đi được, chỉ đem cái phần dưới. Tôi quyết định bỏ lại. Ông chủ tiệm nói tôi phải trả cho ông ta 5Fr (tương đương 7$) vì đã để cái mặt bàn ở lại. Bên xứ mình, nếu gặp trường hợp đó thì mừng, còn ở đây thì người ta sợ bỏ rác. 

Chuyện đó cho thấy, một món đồ khi mình đã chán rồi, muốn bỏ không dễ, nhưng cũng bỏ được. Người chán nhau thì còn khó khăn hơn, muốn li dị cũng phải rắc rối giấy tờ. Nói chung, muốn không được là khổ, không muốn nữa mà phải tiếp tục cưu mang thì lại là cái khổ khác. Vì vậy, người thường xuyên quán chiếu năm uẩn, sẽ thấy năm uẩn là cục nợ, là phiền. Đức Phật đã dùng hình ảnh cái bia để tượng trưng cho năm uẩn. Còn năm uẩn thì ta còn là cái bia để hứng muôn ngàn chuyện trên đời nhắm vào. Nếu còn cả phiền não thì cái bia đó lúc này là bia sống cho người ta phóng dao. Bậc thánh còn sống vẫn là cái bia, còn thân là còn đói lạnh bệnh hoạn, già yếu, đau nhức nhưng các ngài không khổ tâm.

Tôi chợt nhớ câu chuyện thi phóng dao quốc tế. Một vận động viên Mỹ phóng dao đứt đôi trái trái táo trên đầu người mẫu. Anh ta hãnh diện nói: I am Robinson! Vận động viên VN phóng trúng ngay mặt người mẫu, anh ta nói: I am... Sorry.

Còn năm uẩn mà hết phiền não thì mình chỉ là cái bia vô tri, bị đau nhưng không bị khổ. Còn người còn năm uẩn còn phiền não thì vừa bị đau vừa bị khổ. Ngày nào mình còn đam mê, còn ngộ nhận, còn hiểu lầm chấp ngã trong năm uẩn; ngày nào chưa sống quán chiếu năm uẩn một cách rốt ráo thì ngày đó còn vô số cơ hội để tà kiến. Chính vì tà kiến (thấy sai) nên mình mới hành động sai, giống như người nhắm mắt băng qua đường. Kẻ nào cặp mắt trí huệ có vấn đề, không thấy hoặc thấy tầm bậy thì khổ ải trăm bề. Tất cả đều khởi đi từ chuyện không quán chiếu năm uẩn.
_________________________________

Bài viết được trích từ Bài Giảng Kinh Tương Ưng
của Tỳ Khưu Giác Nguyên (Toại Khanh) do Nhị Tường ghi chép lại.
Được lưu trữ dưới dạng âm thanh tại đây: www.vietheravada.net
Bản kinh Pāḷi và Sớ giải tham khảo từ địa chỉ www.tipitaka.org.

Xem thêm: Kinh Tương Ưng Bộ


Nhận xét

  1. Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma-sambuddhassa !

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa!

      Xóa

Đăng nhận xét

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN

Kinh Tương Ưng Bộ - Tham luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 4) Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 5) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra. 6-10) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối với t

Kinh Tăng Chi Bộ - 10 kiết sử

(III) (13) Các Kiết Sử 1. - Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười? 2. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm hạ phần kiết sử? 3. Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Ðây là năm hạ phần kiết sử.

Kinh Tương Ưng Bộ - Sức mạnh của Đàn Bà

30. VI. Họ Ðuổi Ði (S.iv,247) 1) ... 2) -- Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. 3) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc và sức mạnh tài sản, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, nếu người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. 4) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh giới hạnh,

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 9 - Tương Ưng Kim Xí Ðiểu

PHẦN CHÁNH KINH KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3 [30] Chương IX: Tương Ưng Kim Xí Ðiểu I. Chủng Loại (S.iii,246) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh, loại Kim xí điểu từ thai sanh, loại Kim xí điểu từ ẩm ướt sanh, loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. II. Mang Ði (Tăng 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,247) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh... loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. 4) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ trứng sanh chỉ mang đi các loại Nàga từ trứng sanh, không mang đi các loại Nàga từ thai sanh, từ ẩm ướt sanh và hóa sanh. 5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ thai sanh, mang đi các loại Nàga từ trứng sanh và các loại Nàga từ thai sanh, không mang đi các loại Nàga từ ẩm ướt sanh và các loại

Kinh Tương Ưng Bộ - Vô ngã tưởng

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66) 1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. 2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!" 4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

Kinh Tăng Chi Bộ - Ác ý

(VIII) (18) Con Cá 1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: 2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá? - Thưa có, bạch Thế Tôn. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: "Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống"? - Thưa không, bạch Thế Tôn.

Kinh Tương Ưng Bộ - Dục là căn bản của Khổ

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla. 2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn: -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ! -- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta

Kinh Tương Ưng Bộ - Ví dụ mũi tên

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207) 1-2) ...  3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

Kinh Trung Bộ - 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi

27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Cùlahatthipadopama sutta) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika: -- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy? -- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây. -- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không? -- Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.

Kinh Tăng Chi Bộ - Tại sao nhớ, tại sao quên

(III) (193) Bà-La-Môn Sangarava 1. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn: 2. - Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật không học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!