Chuyển đến nội dung chính

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 2 - Tương Ưng Ràdha (04)

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 2 - Tương Ưng Ràdha (04)

PHẦN CHÁNH KINH

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
[23] Chương II: Tương Ưng Ràdha
I. Phẩm Thứ Nhất

IV. Sở Biến Tri (Tạp 6, Ðại 2,37c) (Parinneyya) (S.iii,191)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, Ta sẽ thuyết về các pháp cần phải biến tri, sự biến tri. Và Ông đã được biến tri. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
4) -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ràdha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này Ràdha, thế nào là pháp cần phải biến tri? Sắc, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thọ, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Tưởng, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Các hành, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Thức, này Ràdha, là pháp cần phải biến tri. Những pháp này, này Ràdha, là những pháp cần phải biến tri.
5) Và này Ràdha, thế nào là sự biến tri?
Này Ràdha, sự đoạn diệt tham, sự đoạn diệt sân, sự đoạn diệt si. Như vậy, này Ràdha, gọi là chánh biến tri.
6) Và này Ràdha, thế nào là người đã chánh biến tri? Bậc A-la-hán, cần phải trả lời như vậy. Bậc Tôn giả với tên như thế này, với dòng họ như thế này. Như vậy, này Ràdha, là người đã được chánh biến tri.

V. Sa Môn (S.iii,191)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-4) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
5) Này Ràdha, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy không thể ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
6) Nhưng này Ràdha, những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, và được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.

VI. Sa Môn (S.iii,192)

1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn... (như kinh trên, chỉ thêm sự tập khởi và sự đoạn diệt vào vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn).

VII. Bậc Dự Lưu (S.iii,192)

1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
5) Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề.

VIII. Bậc A-La-Hán (S.iii,192)

1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này Rdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
5) -- Này Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí.

IX. Dục Tham (S.iii,193)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3-4) Thế Tôn nói với Tôn giả Ràdha đang ngồi một bên:
-- Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, sắc sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.
5-7) ... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành...
8) Này Ràdha, phàm có dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào, đối với thức, hãy từ bỏ chúng. Như vậy, thức sẽ được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.

X. Dục Tham (Siii, 193)

(Như kinh trên, chỉ thêm vào: "Phàm có những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên").

PHẦN GIẢNG GIẢI
CỦA SƯ GIÁC NGUYÊN (TOẠI KHANH)

KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3
Chương 2: Tương Ưng Radha

SỞ BIẾN TRI (Pariññeyyasutta)

‘Pariññeyya’: đáng biết. Trên đời này có ba cái dốt: không biết cái đáng biết, biết cái không đáng biết, biết không tới nơi tới chốn. Ở đây Đức Phật dạy, muốn thành thánh phải có hiểu biết. Niết bàn là cứu cánh giải thoát chỉ dành cho người có hiểu biết. Hiểu biết cái gì? Cái gọi là kiến thức trong vũ trụ này thì bao la hằng hà sa số. 

Đức Phật từng xác định: “…Số lá trong rừng nhiều hơn số lá trong tay Thế Tôn vô số lần. Này các tỳ kheo, những gì ta biết được ta thấy được, ta chứng ngộ được trong vũ trụ này nhiều như lá trong rừng, vậy mà những điều ta giảng cho các ngươi thì nhỏ, ít giống như nắm lá trong tay. Vì sao vậy, là vì, này các tỳ kheo, ta chỉ nói cho các ngươi những gì dẫn đến cứu cánh giải thoát, dẫn đến sự hoàn mãn phạm hạnh, chấm dứt sinh tử. Còn cái gì không dẫn đến cứu cánh giải thoát thì đó là những thứ vô ích không có lợi cho các ngươi nên ta không nhắc tới.”

Ở đây cũng vậy, Ngài dạy có những điều đáng biết. Cái đáng nhất biết là gì? Lại là một bài kinh khác: “Này các tỳ kheo, cũng như là một người bị trúng mũi tên; nếu là người thông minh thì lập tức để cho người khác chữa trị chứ không dại khờ cứ lo đi tìm tung tích người bắn, lý do bắn. Cũng vậy, có mặt trong cuộc đời, chuyện cần làm chỉ có một thứ thôi đó là liễu tri năm uẩn. Biết rõ năm uẩn là cái gì, biết nó là nguồn khổ, biết rõ hễ còn đam mê trong năm uẩn này sẽ còn đầu tư năm uẩn khác.”

Ngài Rādha hỏi Đức Phật: Khi mình còn phàm thì phải quán chiếu năm uẩn vậy nếu đắc thánh rồi thì sao. Đức Phật dạy: Nếu đắc thánh thấp thì vẫn tiếp tục quán chiếu năm uẩn cho đến khi đắc quả vị thánh trí cao nhất là La-Hán. Nếu một người đã đắc A-la-hán rồi thì cũng tiếp tục quán chiếu năm uẩn nữa để được hiện tại lạc trú.

Có 2 cách nhìn về thế giới này:

– Cách nhìn tục đế, (conventional truth), là thấy có nam nữ, cây cỏ, đẹp xấu, cao thấp

– Cách nhìn chân đế (ultimate truth), thấy rốt ráo không có gì ngoài danh sắc, năm uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế, 12 duyên khởi và sự sinh diệt liên tục chớp nhoáng của vạn hữu, thấy mọi sự do duyên mà có, có rồi phải bị mất trong nháy mắt.

Khi vị La-Hán quan sát thế giới bằng cách nhìn chân đế thì thân tâm nhẹ nhàng an lạc, không có gì để phải làm, như độ sinh hay kham nhẫn với bao thứ do đời đem đến. Ví dụ như mình có lấy nước dơ tạt vào người của ngài thì ngài biết đây là lạnh, đây là nóng, đây là đất, đây là nước, chỉ vị A-la-hán mới thấy như vậy, còn mình thì nổi điên lên độp cho người ta một cái rồi ngồi xuống… quán tiếp.

Vị thánh La-Hán tuyệt đối tin vào điều mình đã thấy và thấy rõ điều mình đã tin, nên không còn thương thích ghét sợ bất cứ thứ gì ở đời. Còn mình thì sao? Mình thì nói năm uẩn vô thường, vô ngã, mọi thứ do duyên mà có, có rồi sẽ mất, mọi thứ luôn luôn biến dịch và vô thường trong từng nháy mắt; mình biết như vậy thôi nhưng cái biết của mình là cái biết của một đứa con nít. 

Vì sao? Ví dụ một đứa con nít năm tuổi giành đồ chơi với em, mẹ nó nói: Mình là anh, mình nhường em nghen, em nó nhỏ hơn mình, mình nhường mới bảnh, giành là dở lắm, nhường mới đúng là anh. Nó ‘dạ’, nhưng nó chỉ làm được một hai lần khi có mình ở đó. Còn khi ba má anh chị đi vắng thì chuyện giành đồ chơi sẽ tái diễn, bởi chuyện “làm anh phải nhường mới bảnh”, cái bảnh này quá mơ hồ đối với một đứa bé năm tuổi khi đồ chơi đồ ăn bị đứa em giựt mất. Nhưng khi đứa bé đã lớn lên 15 tuổi, hay 25 tuổi thì chuyện nhường nhịn cho em nó một miếng ăn hoặc chuyện gì đó trong đời sống rất là dễ dù khi đó ba má ông bà anh chị không còn có mặt. Cái ý niệm về tình máu mủ anh em lúc đó mới thấm chớ còn lúc 5 tuổi thì nó chưa thấy trọn vẹn điều nó tin và nó chưa có tin trọn vẹn điều nó thấy.

Bậc thánh cũng vậy, các ngài thấy rõ điều các ngài tin, tin chắc chắn điều các ngài thấy. Còn chúng ta thì cái tin cái hiểu chưa đủ thay đổi con người mình một cách sâu sắc. Mình khá hơn mình năm ngoái là mừng lắm rồi.

Một loạt kinh: Sa-môn, Bậc Dự Lưu, La-Hán tiếp theo giống y hệt như vậy. Dầu là vị Tu-đà-hoàn hay là vị A-la-hán thì nội dung tâm linh của hai vị này cũng có một điểm đồng là đều phải sống trong sự quán chiếu năm uẩn. Có điều, sự quán chiếu năm uẩn của vị Sơ quả Tu-đà-hoàn: Dự Lưu hay Thất Lai vẫn chưa được rốt ráo, chưa được toàn triệt như một vị La-Hán nên các ngài vẫn còn một chút tham, một chút sân, một chút si; nhưng dứt khoát không còn tà kiến, không còn tâm bỏn xẻn, không còn tâm hoài nghi trong các pháp mà mình đã hiểu, đã thấy. Vị Tu-đà-hoàn là người thấy điều mình tin và tin điều mình thấy.

Chữ Sa-môn, từ ngữ căn ‘sam’, nghĩa là ‘yên tĩnh’ (calm). Từ đó có chữ Samana nghĩa là ‘bậc tịnh giả’, Sa-môn là tiếng Tàu âm. Phàm phu không đủ tư cách để nhận chữ Sa-môn ghê gớm này đâu, thời Đức Phật người ta gọi Thế Tôn là Sa-môn Gautama là ghê gớm lắm nghĩa là người ta phải nhìn thấy Đức Phật không sở hữu tài sản như thế tục. Hôm nay Sa-môn thì sở hữu nhà, đất, xe cộ…. Cái xe thầy chùa đi nhiều khi cư sĩ mua không nổi. Chữ Sa-môn ngày nay là lạm xưng. Ở đây Đức Phật dạy, dù vị La-Hán hay vị tỳ kheo đều phải đi con đường giống nhau đó là quán chiếu năm uẩn thường trực, có điều là vị A-la-hán thì rốt ráo hơn.

Bài kinh tiếp theo nội dung cũng như trên, Đức Phật dạy ngài Rādha: “Này Rādha bất cứ một sự đam mê thích thú, tham chấp nào đối với năm uẩn thì ta nói rằng sự đam mê thích thú tham chấp đó dứt khoát cần phải được đoạn trừ. Bởi vì sự đam mê, thích thú, tham chấp trong năm uẩn nếu không cắt đứt thì dẫn đến tái sinh.”

Người Phật tử nghe chữ ‘tái sinh’ mà không được giải thích thì không có sợ. Ngay trong đời này, mình sinh ra trong gia đình có giáo dục, lớn lên biết Phật pháp, không phải là người cùng hung cực ác tệ lậu, vậy mà trong hăm bốn giờ đồng hồ tâm lành, tâm thiện của mình có được bao nhiêu phút? Cái tâm tham sân si ích kỷ nhỏ mọn toan tính chiếm bao nhiêu phần trăm trong ngày? May là kiếp này mình không đến nỗi tệ mà còn như vậy nói gì trong những đời quá khứ xa xưa mình làm con sư tử, con beo, con rắn, con chuột, làm bao nhiêu hạng người cùng hung cực ác mình đã gieo tạo biết bao nhiêu bất thiện. 

Cho nên, bây giờ, nếu nói về nợ ác nghiệp thì bà con trong room này kể cả tôi, riêng phần nợ của mình không có núi nào biển nào sánh bằng. Dĩ nhiên trong vô số đời quá khứ mình cũng làm rất nhiều thiện nghiệp, công đức, nhưng dù nhiều bao nhiêu cũng chỉ bằng một phần triệu tội lỗi của mình thôi. Biết đạo mà tâm bất thiện đã nhiều gấp bao nhiêu lần tâm thiện, thử hỏi trong dòng luân hồi thăm thẳm đó mình làm phước được bao nhiêu. Cho và nhận thì ai cũng thích nhận chớ ai khoái cho. Sống ở đời có đấu tranh thì lúc nào mình cũng muốn thắng chớ ai muốn thua. Lúc nào mình cũng muốn giành chớ có lúc nào mình muốn nhường đâu, lúc nào cũng muốn ăn trên ngồi trước. Vì vậy, còn tái sinh là còn đi trả nợ, nhiều hơn lãnh thưởng hay đòi nợ. Câu này phải học thuộc lòng, đọc mỗi ngày và xăm lên trán. Con đường thông minh và an toàn nhất là phải làm sao quán chiếu năm uẩn. 

Tôi không phải là thiền sư, hay hành giả nhưng không có ngày nào tôi không nhớ đến 2 chuyện: 1/ Tôi phải chết. 2/ Mọi sự là đồ giả. Không phải vì tôi tu hành tinh tấn mà bởi vì tôi rất nhát rất hèn. Tôi sợ cảnh kinh hoàng nhất là thở không được, lúc đó mà lộ cái thất thần, hoảng hốt ra thì quê lắm. Phật tử thấy mình thường thuyết pháp mà bữa nay thấy mình tái mét hoảng hồn, thì quê dữ lắm. Đó là một trong những cái tôi sợ, sợ người ta thấy tôi dỏm, vì vậy giờ tôi phải chuẩn bị trước. Không có gì giấu cho được khi mình hấp hối. Giờ mình đi ra ngoài đường bị ai lụi cho một cái đổ ruột, đường về bệnh viện xa xôi, cấp cứu chưa tới cũng sợ. Lỡ không chịu ra máu mà cứ muốn mửa không cũng đáng sợ. Tôi cố ý nói chớ không phải lạc đề. Mình phải quán chiếu năm uẩn là vì ý do đó. Mình phải chuẩn bị cho một tai nạn kinh hoàng nhất có thể xảy ra.

Hôm nay chúng ta đã học xong chương Rādha. Những kinh tiếp theo: Māra, Vô thường, Khổ, Khổ Tánh, Vô ngã, Tận pháp, Diệt pháp, Tập khởi pháp, Đoạn diệt pháp, Phẩm Sơ Vấn cứ theo đó mà hiểu. Ngày thứ Hai chúng ta sẽ học chương Tương Ưng Kiến, bài kinh Gió. Vì nhiều trục trặc nho nhỏ không đáng mà lớp mình bị gián đoạn một cách rất là đáng tiếc chớ cái đại mộng của tôi là làm sao chúng ta rút ngắn được thời gian để học xong Tương Ưng Bộ này. Vì chúng ta còn những kinh khác. Tôi muốn rút ngắn vì tôi biết cái này mà không ai giảng thì bà con đời nào đụng vào kinh này. Người ta lười đi thì mình nắm tay mình kéo, chỗ nào thông qua được thì mình thông qua. Hai năm mới học xong Tương Ưng Bộ kinh, mai này bà con lỡ không còn duyên nữa, thì cũng nhớ chừng chừng: “Tôi đã từng nghe xong Tương Ưng Bộ kinh với phần chú giải đàng hoàng chớ không phải nghe lời thầy bà bàn tán”.
__________________________________

Bài viết được trích từ Bài Giảng Kinh Tương Ưng
của Tỳ Khưu Giác Nguyên (Toại Khanh) do Nhị Tường ghi chép lại.
Được lưu trữ dưới dạng âm thanh tại đây: www.vietheravada.net
Bản kinh Pāḷi và Sớ giải tham khảo từ địa chỉ www.tipitaka.org.

Xem thêm: Kinh Tương Ưng Bộ


Nhận xét

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN

Kinh Tăng Chi Bộ - 10 kiết sử

(III) (13) Các Kiết Sử 1. - Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười? 2. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm hạ phần kiết sử? 3. Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Ðây là năm hạ phần kiết sử.

Kinh Tương Ưng Bộ - Tham luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 4) Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 5) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra. 6-10) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối với t

TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 9 - Tương Ưng Kim Xí Ðiểu

PHẦN CHÁNH KINH KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3 [30] Chương IX: Tương Ưng Kim Xí Ðiểu I. Chủng Loại (S.iii,246) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh, loại Kim xí điểu từ thai sanh, loại Kim xí điểu từ ẩm ướt sanh, loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. II. Mang Ði (Tăng 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,247) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh... loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. 4) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ trứng sanh chỉ mang đi các loại Nàga từ trứng sanh, không mang đi các loại Nàga từ thai sanh, từ ẩm ướt sanh và hóa sanh. 5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ thai sanh, mang đi các loại Nàga từ trứng sanh và các loại Nàga từ thai sanh, không mang đi các loại Nàga từ ẩm ướt sanh và các loại

Kinh Tương Ưng Bộ - Sức mạnh của Đàn Bà

30. VI. Họ Ðuổi Ði (S.iv,247) 1) ... 2) -- Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. 3) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc và sức mạnh tài sản, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, nếu người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. 4) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh giới hạnh,

Thiền Vipassana - Thiền Tứ Niệm Xứ (Thích Trí Siêu)

Thiền Tứ niệm xứ (Thích Trí Siêu -  1998) _______________________ Mục Lục [1] Vài lời cùng bạn đọc [2] Mở đầu  [3] Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh  [4] Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông  [5] Thiền và Tịnh Ðộ  [6] Tứ Niệm Xứ và Bồ Tát Ðạo  [7] Phương pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ  [8] Kết luận [9] Phụ Lục - Kinh Quán Niệm Sách Thiền Tứ Niệm Xứ đã được tái bản nhiều lần. Riêng trong kỳ tái bản này sách được bổ túc thêm phần Phụ Lục với Kinh Niệm Xứ, dịch từ "Discourse on the Applications of Mindfulness" (Satipatthanasutta) trong "Middle Length Sayings" (Trung Bộ Kinh) của Pali Text Society, I.B. Horner, 1967.

Kinh Tương Ưng Bộ - Vô ngã tưởng

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66) 1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. 2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!" 4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

Kinh Tăng Chi Bộ - Ác ý

(VIII) (18) Con Cá 1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: 2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá? - Thưa có, bạch Thế Tôn. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: "Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống"? - Thưa không, bạch Thế Tôn.

Kinh Tương Ưng Bộ - Dục là căn bản của Khổ

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla. 2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn: -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ! -- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta

Kinh Tương Ưng Bộ - Ví dụ mũi tên

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207) 1-2) ...  3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

Kinh Trung Bộ - 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi

27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Cùlahatthipadopama sutta) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika: -- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy? -- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây. -- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không? -- Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.