Skip to main content

Chuyện Kể Đạo Phật - Nguyên nhân khổ đau

Nguyên nhân khổ đau 1

Trong Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), phần Tập đế thường nói nguyên nhân của đau khổ là 10 phiền não căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Nhiều người học đạo không nhớ nổi 10 danh từ trên, và dù có nhớ đi nữa cũng chưa chắc hiểu rõ ý nghĩa. Qua kinh nghiệm cá nhân, tôi xin tóm tắt lại thành một thứ cho dễ nhớ:
Đạo Phật Nguyên Thủy - Chuyện Kể Đạo Phật - Nguyên nhân khổ đau
"Nguyên nhân của khổ đau là muốn sự vật phải theo ý mình".

Một câu đơn giản trên bao gồm 10 phiền não gốc.

Khi tiếp xúc cảnh trần, tâm khởi lên ưa cái này, muốn cái kia, như muốn có nhiều tiền, muốn giàu có, muốn nổi danh, muốn vợ đẹp, muốn quyền hành, muốn cái này, muốn cái kia, tất cả những cái muốn đó đều được thúc đẩy bởi tâm tham. Khi cái muốn được thỏa mãn thì lòng tham lại tăng trưởng, có một thì muốn hai, có hai thì muốn mười, và có rồi thì sợ mất, phải lo lắng ôm giữ, cất dấu.

Nhưng khi những cái muốn không được thỏa mãn thì tâm sân nổi lên, giận người này, tức người kia, đổ lỗi người nọ. Trong tất cả phiền não thì tâm sân là nguy hiểm nhất, vì nó đưa đến hành động xấu ác, mắng chửi, đánh đập, mưu hại người làm trái ý mình.

Muốn sự vật phải xảy ra theo ý mình là ngu si, bởi vì sự vật xảy ra theo luật nhân duyên và nhân quả. Đủ nhân và duyên thì cho ra quả, còn thiếu nhân và duyên thì quả không trổ. Thí dụ những người nghèo mà ham mua vé số, lô tô, đánh đề mong trúng số làm giàu, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo vì không có phước. Theo luật nhân quả, những người mà kiếp này giàu có là nhờ đời trước đã từng bố thí, giúp đỡ kẻ nghèo khó, nhờ phước đức đó nên kiếp này làm ăn dễ gặp may mắn, được quý nhân giúp đỡ. Ngoài đời thường nói "thông minh bất năng địch nghiệp", dù tài giỏi thông minh nhưng không có phước thì cũng nghèo mạt rệp; hoặc "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên", con người mưu mô tài giỏi thế nào đi nữa, nhưng thành công hay không là do trời xếp đặt, trời ở đây chính là luật nhân quả. Điển hình như truyện Tam Quốc xưa kia, Khổng Minh bao lần bày binh xếp trận quyết giết cho được Tư Mã Ý, đúng lúc Tư Mã Ý sắp bị chết cháy thì trời nổi cơn mưa lớn dập tắt hết lửa. Trong gia đình, ai cũng muốn vợ chồng con cái hạnh phúc, nhưng đâu biết tất cả là oan gia hội tụ để thanh toán nợ ân oán. Đã là oan gia tìm đến đòi nợ, trả nợ thì làm sao muốn người khác phải thương yêu và chiều ý mình được?

Muốn sự vật phải theo ý mình cũng chính là ngã mạn, tự cho mình là quan trọng, muốn mọi người phải tuân chiều ý mình. Trong gia đình, vợ muốn nhẫn hột xoàn mà chồng chỉ mua cho nhẫn vàng thì buồn giận; chồng muốn đi du lịch mà vợ chỉ thích đi mua sắm thì không vui. Ai cũng muốn người kia phải theo ý của mình. Đi vào đám đông thì muốn mọi người để ý tới mình, vào chùa thì ăn mặc sang trọng, trang sức lộng lẫy để mọi người chú ý, thế là cảm thấy vui sướng hãnh diện. Trong buổi ăn uống, nhậu nhẹt thì lớn miệng dành nói, không cho người khác nói, lỡ ai nói trái ý thì nổi sân chửi bới, ẩu đả.

Khi sự vật không xảy ra theo ý mình thì tâm nghi dễ phát sinh. Thí dụ người vợ muốn chồng phải đi làm về đúng giờ, nhưng lỡ chồng đi làm về trễ thì vợ khởi tâm nghi là chồng ngoại tình. Hoặc vợ muốn chồng phải đưa đi nghỉ mát, nhưng chồng bận việc không đi được thì vợ nghi là chồng hết thương mình, v.v...

Muốn sự vật phải theo ý mình và mình ở đây là ai? Đó chẳng phải cái thân này là gì? Vì chấp cái thân này là Ta, là mình, (thân kiến), nên thân này muốn cái gì thì phải chiều theo ý nó. Nó đòi ăn thịt uống rượu mà trong nhà chỉ có rau cải và nước lã thì nổi sân lên, đập bàn đập ghế, la hét vợ con. Vì cho cái thân này là Ta nên phải đi sửa sắc đẹp, không muốn nó già.

Biên kiến là chấp vào cái thấy một chiều, còn gọi là thành kiến. Khi muốn sự vật phải xảy ra theo ý mình tức là không muốn sự vật xảy ra theo ý người khác, đó chính là biên kiến .

Tà kiến là chấp chặt những quan niệm sai lầm, trái với đạo đức, trái với luật nhân quả. Cứ muốn sự vật phải xảy ra theo ý mình, đó là không hiểu luật nhân duyên, nhân quả như đã nói ở trên, và như vậy chính là một loại tà kiến.

Kiến thủ là chấp chặt ý kiến, quan niệm của mình.

Ai cũng có quyền có ý kiến và khi mình biết tôn trọng ý kiến của người khác thì không phải là kiến thủ. Kiến thủ ở đây là khư khư bám chặt vào ý kiến của mình là đúng và ép buộc người khác phải theo. Dù ý kiến của mình đúng và hay nhưng ép buộc kẻ khác tuân theo thì đó là kiến thủ. Từ kiến thủ đi tới độc tài chẳng bao xa. Thí dụ những người tu Tịnh Độ hoặc tu Thiền quá khích, muốn xiển dương pháp môn của mình là hay, là đúng, rồi dèm pha pháp môn khác, muốn gia đình bạn bè phải tu theo pháp môn của mình, đây cũng là một loại kiến thủ.

Giới cấm thủ là chấp vào những giới cấm kỳ lạ, như không nhận sự tiếp máu khi bịnh hay giải phẫu, không được cưới hỏi người ngoại đạo, phải tiêu diệt người ngoại đạo, v.v... Bám chặt vào những giới luật kỳ lạ như vậy mà còn bắt thân thuộc, bè bạn phải theo lý của mình, có người hiểu biết khuyên răn thì không nghe mà còn sinh ra oán giận.

Qua sự phân tách trên, nếu bạn muốn diệt trừ phiền não khổ đau thì cần nhớ nguyên nhân chính là "muốn sự vật phải theo ý mình".

Có người sẽ thắc mắc, vậy thì không nên muốn gì hết sao? Và như vậy thì làm sao sống? Làm sao buôn bán, làm ăn, phát triển kinh tế, xã hội, v.v...?

Để dễ hiểu, tôi cần phải thêm vào là "nhất quyết muốn sự vật phải theo ý mình" hoặc "cứ muốn sự vật phải theo ý mình". Sống ở đời, chúng ta cần phải suy nghĩ tính toán, sắp xếp, dự tính trước những điều cần làm trong tương lai, những kế hoạch làm ăn, buôn bán, giao thiệp, v.v... Và có quyền mong ước mọi việc xảy ra như mình mong đợi, nhưng không nên bám chặt vào đó, nhất quyết muốn nó phải xảy ra theo ý mình mới được. Nếu mọi việc hanh thông và thành công thì không quá vui mừng, tự kiêu cho là mình tài giỏi. Nếu mọi việc thất bại, không như ý mình muốn thì nên hiểu rằng có thể do thiếu phước, hoặc nhân duyên chưa đủ và không buồn giận, đổ lỗi cho người khác. Xin nhắc lại một lần nữa, sự vật xảy ra theo luật nhân duyên và nhân quả, và ý của mình chỉ là một cái nhân nhỏ.

Hai loại muốn

Có hai loại muốn: ham muốn và mong muốn. Ham muốn (craving) là nhất quyết muốn cho bằng được, nếu không được thì bất mãn, bực tức, buồn giận. Do đó ham muốn càng nhiều thì đau khổ càng tăng. Thí dụ làm ăn thì cứ muốn phải được nhiều tiền, nếu không được thì tính kế gian lận bất chánh; trong gia đình thì cứ muốn vợ chồng, con cái phải sửa đổi tánh tình theo ý mình, nếu không thì khắc khẩu, cãi nhau suốt ngày.

Còn mong muốn hay ước muốn (wish) cũng là muốn nhưng cường độ nhẹ và yếu hơn vì không dám chắc sẽ được hay không. Được thì tốt mà không được thì thôi. Làm ăn có tiền thì xài nhiều, ít tiền thì xài ít; trong gia đình cũng muốn hoà thuận, nhưng mỗi người mỗi tính, không thể thay đổi được ai thì biết chấp nhận họ như vậy.

Có người thắc mắc tu là phải diệt dục, tức là diệt trừ ham muốn, vậy ham tu, muốn tu, thích tu hành có phải là tham không? Ham muốn có hai loại: thiện và bất thiện. Ham muốn chạy theo ngũ dục để thỏa mãn các giác quan, và nắm giữ làm của mình, đây là tham dục (kamachanda), thuộc loại bất thiện. Còn ham muốn tu hành, từ bỏ dục lạc thế gian, kiểm soát các giác quan, thanh lọc tâm ý, đây là ham muốn chân chính (dharmachanda), thuộc loại thiện. Tu hành là tìm cách diệt trừ sự ham muốn bất thiện (không làm điều ác) và tăng trưởng ham muốn thiện (gắng làm điều lành). 

Nguyên nhân khổ đau 2 

"Muốn sự vật phải theo ý mình" là nguyên nhân gây ra đau khổ khi giao tiếp, đối xử với người xung quanh. Nhưng còn một nguyên nhân khác cũng gây ra đau khổ khi ở một mình và không tiếp xúc với ai, đó là tưởng.

Tưởng là một trong năm uẩn, tức là năm phần tử cấu tạo nên con người. Tưởng cũng là một trong 51 tâm sở nên còn gọi là tâm sở tưởng hay tâm tưởng. Ở đây tôi không đi sâu vào giáo lý Duy Thức mà chỉ đơn giản nêu lên tác dụng của cái tưởng.

Tưởng có ba loại: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Khi tâm nhớ đến những chuyện đã qua thì gọi là tâm tưởng quá khứ, hay hồi tưởng. Đa số chúng ta thường hay bị loại tâm tưởng này làm khổ nhiều nhất. Tuần trước, tháng trước hay năm trước có ai đó nói nặng hay mắng chửi mình thì lâu lâu ngồi yên, những lời nói, hình ảnh này cứ trào ra, hiện lên trong đầu và khơi dậy bao nhiêu buồn tủi, tức giận, và ta để cho những hình ảnh này tiếp tục dẫn ta chìm đắm trong khổ đau phiền não, không cách nào thoát ra. Khổ thay, bình thường những chuyện vui thì mau quên mà chuyện buồn thì nhớ hoài. Tâm tưởng quá khứ thường làm cho người ta buồn giận, trách móc, thù dai.

Khi tâm nghĩ đến tương lai, vẽ vời ra đủ loại mơ ước, mong đợi thì gọi là tâm tưởng tương lai, hay tưởng tượng. Thí dụ gia đình hạnh phúc mà tưởng tượng một ngày nào đó người chồng hay vợ sẽ bỏ mình, hoặc bị tai nạn chết sớm thì tự nhiên đâm ra lo âu, sợ hãi. Tâm tưởng tương lai thường làm cho người ta lo sợ.

Để cho dễ nhớ, bạn đọc có thể so sánh tưởng quá khứ giống như một người thợ quay phim, chuyên môn thu hình và âm thanh những cảnh đã xảy ra, rồi lâu lâu đem ra chiếu lại cho bạn xem. Còn tưởng tương lai giống như người chiếu phim giả tưởng mà bạn đóng một vai trong đó.

Cả hai loại tưởng trên đều gây ra khổ đau, nên trong kinh "Nhất dạ hiền giả", đức Phật mới dạy chúng ta đừng tìm về quá khứ, đừng tưởng đến tương lai, quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, và hãy an trú trong hiện tại.

Tưởng quá khứ và tưởng tương lai đều là loại tưởng sai lầm, vậy thì tưởng hiện tại có tốt hơn không?

Chữ tưởng, tiếng Pali là sanna, Sanskrit là samjna, có nghĩa là tri giác (perception) tức là sự ghi nhận và nhận biết của các giác quan. Tưởng hiện tại chính là sự ghi nhận sự vật đang xảy ra trong hiện tại. Sự ghi nhận này có thể đúng mà cũng có thể sai. Do đó cái tưởng hiện tại cũng có đúng và sai. Thí dụ khi nghe người kia la hét chửi mình mà ta ghi nhận là người kia chửi mình, đây có thể được xem là tưởng đúng. Nhưng cũng có khi người kia vì lãng tai nên ăn nói lớn tiếng mà ta tưởng là họ mắng chửi hay giận dữ với ta thì đây là tưởng sai. Vì thế nhiều khi tâm an trú trong hiện tại nhưng do tưởng sai lầm nên vẫn sinh ra khổ đau như thường.

Muốn thoát khỏi khổ đau do tưởng gây ra thì có một phương pháp, đó là tập ghi nhận sự vật đúng như thật, còn gọi là ghi nhận sự vật như nó là (yathabutam). Thí dụ khi nghe người kia la hét thì ghi nhận là người kia đang la hét thay vì ghi nhận người kia chửi mình. Khi nghe người kia ăn nói nhỏ nhẹ thì ghi nhận là họ ăn nói nhỏ nhẹ thay vì ghi nhận là họ dễ thương với mình.

Làm sao biết được ghi nhận kiểu nào là đúng? Khi ghi nhận hiện tại mà tâm bình thản, không khởi lên ưa ghét, buồn giận, ganh tị thì đó là dấu hiệu tốt. Còn khi ghi nhận hiện tại mà tâm khởi lên ưa ghét, buồn giận, nghi kỵ thì đó là dấu hiệu xấu, cho biết tâm tưởng hiện tại đã bị méo mó vì khoác lên những thành kiến. Giống như đeo mắt kính màu mà nhìn sự vật. Khi có vọng tưởng thì tức khắc vọng tình, cảm xúc ưa ghét, vui buồn, lo sợ sẽ theo sau.

Bài viết được Đạo Phật Nguyên Thủy trích từ cuốn sách
Dòng Đời Vô Tận của Hòa thượng Thích Trí Siêu

Comments

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN

Kinh Tương Ưng Bộ - Vô ngã tưởng

VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66)
1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. 2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"

Kinh Tương Ưng Bộ - Tham luyến

I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
4) Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
5) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra.
6-10) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành…

Kinh Tăng Chi Bộ - Ác ý

(VIII) (18) Con Cá 1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: "Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống"?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.

Kinh Tương Ưng Bộ - Sức mạnh của Đàn Bà

30. VI. Họ Ðuổi Ði (S.iv,247)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. 3) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc và sức mạnh tài sản, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, nếu người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình.
4) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh giới hạnh, nhưng không có sức …

Kinh Trung Bộ - 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi

27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Cùlahatthipadopama sutta)

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:
-- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?
-- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây.
-- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không?
-- Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.

Kinh Tương Ưng Bộ - Ví dụ mũi tên

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)
1-2) ...  3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

Kinh Tương Ưng Bộ - Nghiệp của Võ sỹ

III. Yodhàjivo (Kẻ chiến đấu) (S.vi,308)
1) ... 2) Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: "Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

Kinh Tương Ưng Bộ - Dục là căn bản của Khổ

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327)
1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla. 2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!
-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, bạch…

Kinh Tăng Chi Bộ - Tại sao nhớ, tại sao quên

(III) (193) Bà-La-Môn Sangarava 1. Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
2. - Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật không học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng!